Lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam đã gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của 13 vị Tổng Bí thư qua các thời kỳ. Hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, xin giới thiệu về chân dung của các Tổng Bí thư qua những thời kỳ.
1. Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên khi đi học là Nguyễn Tất Thành, khi hoạt động cách mạng trước đây lấy tên là Nguyễn Ái Quốc). Người sinh ngày 19/5/1890, từ trần ngày 2/9/1969. Quê quán Nghệ An.

Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo Tư liệu Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, Người giữ chức Chủ tịch Đảng từ tháng 2/1951 đến tháng 9/1969; Người là Tổng Bí thư của Đảng từ tháng 10/1956 đến tháng 9/1960.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc.
2. Tổng Bí thư Trần Phú
Tổng Bí thư Trần Phú có bí danh Lý Quý, Anh Năm, sinh ngày 1/5/1904, hy sinh ngày 6/9/1931. Quê quán Hà Tĩnh. Đồng chí là Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng ta, giai đoạn từ 10/1930 đến 4/1931.

Tổng Bí thư Trần Phú
Đồng chí Trần Phú là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí Trần Phú đã dự thảo Luận cương chính trị và được Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam tháng 10/1930 thông qua. Đây là văn kiện quan trọng của Đảng. Tại hội nghị này, đồng chí Trần Phú cũng đã được bầu làm Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng.
Trên cương vị Tổng Bí thư đầu tiên, đồng chí Trần Phú đã có những đóng góp to lớn trong việc xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Tháng 4/1931, đồng chí bị Thực dân Pháp bắt. Trước sự tra tấn và đày ải của kẻ thù, đồng chí Trần Phú đã hy sinh ngày 6/9/1931. Trước lúc hy sinh, đồng chí đã nhắn gửi đồng chí, đồng bào lời nói bất hủ: "Hãy giữ vững chí khí chiến đấu".
3. Tổng Bí thư Lê Hồng Phong
Tổng Bí thư Lê Hồng Phong tên thật là Lê Huy Doãn, còn được biết đến với các tên gọi khác: Vương Nhật Dân, Hải An, Lítvinốp, Trí Bình. Đồng chí Lê Hồng Phong sinh ngày 6/91902 hy sinh ngày 6/9/1942. Quê quán Nghệ An. Đồng chí là Tổng Bí thư giai đoạn từ 3/1935 đến 10/1936.

Tổng Bí thư Lê Hồng Phong
Đồng chí Lê Hồng Phong là một trong những học trò đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc, đã có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, tháng 6/1939, đồng chí bị mật thám Pháp bắt tại Sài Gòn và sau đó bị quản thúc ở Nghệ An. Tới cuối năm 1940 đồng chí bị đày ra Côn Đảo. Dù bị tra tấn dã man, đồng vẫn kiên định không khai báo.
Trước khi qua đời vào ngày 06/9/1942, đồng chí Lê Hồng Phong nhắn gửi: “Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng, tới giờ phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin thắng lợi vẻ vang của cách mạng".
4. Tổng Bí thư Hà Huy Tập
Tổng Bí thư Hà Huy Tập, còn có các tên gọi khác: Hồng Thế Công, Trí Cường, Sinhichkin. Đồng chí Hà Huy Tập sinh ngày 24/4/1906 hy sinh ngày 28/8/1941). Quê quán Hà Tĩnh. Đồng chí Hà Huy Tập là Tổng Bí thư từ tháng 10/1936 đến 3/1938.

Tổng Bí thư Hà Huy Tập
Trong quá trình hoạt động cách mạng, từ tháng 5/1938 đến tháng 3/1940, hai lần đồng chí bị thực dân Pháp bắt và bị kết án tử hình.
Ngày 28/8/1941, đồng chí bị địch xử bắn tại ngã tư Giếng Nước ở Hóc Môn, Gia Ðịnh (nay là TP.HCM), để lại một di sản lớn cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam, trong đó có những bài học quý báu cả về lý luận và thực tiễn hoạt động cách mạng của Đảng.
5. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ còn có các tên gọi khác: Nguyễn Văn Cừu, Anh Năm, Trí Cường. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ sinh ngày 9/7/1912 hy sinh ngày 28/8/1941. Quê quán Bắc Ninh. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ là Tổng Bí thư từ 3/1938 đến 1/1940.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ
Từ năm 1937 đến 1938, tại các Hội nghị Trung ương, đồng chí được bầu vào Thường vụ và Ban Bí thư. Tháng 3/1938, Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư thứ tư của Đảng, khi chưa đầy 26 tuổi, là Tổng Bí thư trẻ tuổi nhất trong lịch sử.
Trên cương vị Tổng Bí thư, mặc dù chỉ trong 2 năm, đồng chí đã khẳng định tư chất lãnh đạo tài năng, sáng tạo. Ngày 18/1/1940, Nguyễn Văn Cừ cùng nhiều cán bộ cách mạng bị Pháp bắt. Rạng sáng 28/8/1941, tại Ngã Ba Giồng (Gia Định).
6. Tổng Bí thư Trường Chinh
Tổng Bí thư Trường Chinh, tên thật là Đặng Xuân Khu, sinh ngày 9/2/1907 từ trần ngày 30/9/1988. Quê quán Nam Định. Đồng chí Trường Chinh là Tổng Bí thư từ 5/1941 đến 10/1956, từ 7/1986 đến 12/1986.

Tổng Bí thư Trường Chinh
Trong quá trình hoạt động và công tác, ngoài 2 lần làm Tổng Bí thư, đồng chí từng giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước; Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội (nay gọi Chủ tịch Quốc hội); Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (nay gọi Chủ tịch nước).
Đồng chí Trường Chinh là người đặt nền móng cho sự nghiệp đổi mới của đất nước, người chiến sĩ cộng sản trung kiên, suốt đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đồng chí vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.
7. Tổng Bí thư Lê Duẩn
Tổng Bí thư Lê Duẩn tên thật là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 7/4/1907, từ trần ngày 10/7/1986. Quê quán Quảng Trị. Đồng chí Lê Duẩn là Tổng Bí thư từ năm 1960 đến năm 1986.

Tổng Bí thư Lê Duẩn
Trong lịch sử Ðảng ta, đồng chí Lê Duẩn có thời gian giữ trọng trách Tổng Bí thư dài nhất, gần 26 năm. Suốt 15 năm, từ 1960-1975, đồng chí Lê Duẩn đã cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân, toàn quân đánh thắng đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Từ năm 1976, trên cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng chí cùng Trung ương đề ra và chỉ đạo thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và định hướng phát triển kinh tế trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Đồng chí Lê Duẩn đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Sao Vàng, phần thưởng cao quý nhất của Nhà nước, cùng nhiều huân, huy chương của Việt Nam và quốc tế.
8. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tên thật là Nguyễn Văn Cúc, sinh ngày 1/7/1915, từ trần ngày 27/4/1998. Quê quán Hưng Yên. Đồng chí Nguyễn Văn Linh là Tổng Bí thư từ 12/1986 đến 6/1991.

Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh
Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Nguyễn Văn Linh gắn bó nhiều với miền Nam ruột thịt. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cương vị Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã lãnh đạo phong trào cách mạng miền nam trong những năm tháng gay go, ác liệt nhất, để lại dấu ấn sâu đậm với phong trào “Đồng khởi” và cuộc kháng chiến chống Mỹ (1960-1975).
Năm 1986, đồng chí Nguyễn Văn Linh được giao trọng trách Tổng Bí thư của Đảng. Trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua nhiều thử thách, đưa công cuộc đổi mới tiến lên và đạt nhiều thành tựu quan trọng: phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng-an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam.
Ngày 25/6/1992, đồng chí Nguyễn Văn Linh vinh dự được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công trao tặng Huân chương Sao Vàng, phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước.
9. Tổng Bí thư Đỗ Mười
Tổng Bí thư Ðỗ Mười tên khai sinh là Nguyễn Duy Cống, sinh ngày 2/2/1917 từ trần ngày 1/10/2018. Quê quán Hà Nội. Đồng chí Đỗ Mười là Tổng Bí thư từ 6/1991 đến 12/1997.

Tổng Bí thư Đỗ Mười
Trong quá trình công tác đồng chí từng giữ nhiều chức vụ lãnh đạo như Bộ trưởng Bộ Nội thương; Phó Thủ tướng, Chủ nhiệm Văn phòng Kinh tế Phủ Thủ tướng: Bộ trưởng Bộ Xây dựng; Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng rồi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ).
Trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Đỗ Mười cùng Bộ Chính trị đã lãnh đạo giữ vững ổn định chính trị, củng cố lập trường tư tưởng, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Đồng thời, chỉ đạo triển khai nhiều hoạt động tích cực, sôi động trên lĩnh vực ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân, đưa lại hiệu quả to lớn cho đất nước.
Với nhiều công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng; Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.
10. Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu
Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, sinh ngày 27/12/1931, từ trần ngày 7/8/2020. Quê quán Thanh Hóa. Đồng chí Lê Khả Phiêu là Tổng Bí thư từ 12/1997 đến 4/2001.

Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu
Cuộc đời hoạt động của Đồng chí gắn với con đường binh nghiệp. Đồng chí tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và chiến đấu ở Campuchia. Đồng chí có quân hàm Thượng tướng và từng giữ chức Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Trên cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Lê Khả Phiêu có nhiều đóng góp quan trọng, từng bước đưa đất nước phát triển và nâng cao vị thế Việt Nam. Với nhiều công lao và thành tích xuất sắc đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng; Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.
11. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh
Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh sinh ngày 11/9/1940. Quê quán Bắc Kạn (cũ). Đồng chí Nông Đức Mạnh là Tổng Bí thư từ 4/2001 đến 1/2011.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh
Trong quá trình công tác, đồng chí từng giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên); Trưởng ban Dân tộc Trung ương; Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội; Chủ tịch Quốc hội khóa X.
Trong 10 năm đảm nhiệm cương vị Tổng Bí thư, với kinh nghiệm thực tiễn phong phú, đồng chí Nông Đức Mạnh đã có những đóng góp tích cực trong việc tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, phát huy trí tuệ tập thể trong lãnh đạo, xây dựng nội bộ Đảng gắn kết, bảo đảm sự ổn định, phát triển.
12. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, sinh ngày 14/4/1944, từ trần ngày 19/7/2024. Quê quán Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng là Tổng Bí thư từ 1/2011-7/2024.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
Trong quá trình công tác, đồng chí từng giữ chức Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; Bí thư Thành ủy TP.Hà Nội; Chủ tịch Quốc hội.
Đồng chí là Ủy viên Bộ Chính trị các khóa VIII, IX, X, XI, XII; XIII; Ủy viên Trung ương Đảng khóa VII, VIII, IX, X, XI, XII, XIII; tham gia Thường trực Bộ Chính trị (8/1999-4/2001). Đại biểu Quốc hội các khóa XI, XII, XIII, XIV, XV.
Trong 14 năm giữ cương vị cao lãnh đạo nhất của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm góp phần quan trọng vào sự phát triển của đất nước.
Đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã cùng Ban Chấp hành Trung ương hoạch định và lãnh đạo thực hiện thắng lợi các chủ trương chiến lược về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiên quyết, kiên trì chống chủ nghĩa cá nhân, chống sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa...
13. Tổng Bí thư Tô Lâm
Tổng Bí thư Tô Lâm sinh ngày 10/7/1957. Quê quán Hưng Yên. Đồng chí giữ chức Tổng Bí thư từ tháng 8/2024.

Tổng Bí thư Tô Lâm
Đồng chí Tô Lâm là Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII, XIII; Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, XII, XIII; Đại biểu Quốc hội khóa XIV, XV. Trong quá trình công tác, đồng chí có thời gian dài gắn bó với ngành Công an, có cấp bậc hàm Đại tướng.
Tháng 5/2024, đồng chí được bầu giữ chức Chủ tịch nước. Ngày 3/8/2024, Đồng chí được bầu giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trên cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm thực hiện nhiều hoạt động đối ngoại quan trọng, khẳng định chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Việt Nam. Những chuyến thăm, tiếp xúc cấp cao đã góp phần củng cố quan hệ với các quốc gia, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, đất nước đã thực hiện nhiều đổi mới trong thời gian qua, như sắp xếp tinh gọn bộ máy, ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm tạo bước đột phá trong phát triển đất nước trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ, giáo dục, y tế, củng cố quốc phòng -an ninh, đối ngoại, công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được thực hiện mạnh mẽ trên tinh thần “không ngừng, không nghỉ”, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Nhiều vụ án tham nhũng, tiêu cực, lãng phí nghiêm trọng, nhiều cán bộ suy thoái về phẩm chất, đạo đức lối sống, vi phạm pháp luật tiếp tục bị xử lý, tăng cường củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước.