Chi tiết tin

A+ | A | A-

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 96 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (03/02/1930 - 03/02/2026)

Người đăng: Admin Trà My Ngày đăng: 16:16 | 27/01/2026 Lượt xem: 1336

1. Lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam là lịch sử của quá trình đấu tranh cách mạng chống giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, gắn liền với lịch sử của dân tộc. Đó là chặng đường muôn vàn khó khăn, gian khổ nhưng đầy vinh quang và rất đỗi tự hào. Mỗi bước thăng trầm của lịch sử cũng là bước đường thử thách làm cho Đảng ta ngày càng trưởng thành và lớn mạnh hơn trên con đường đấu tranh giành chính quyền và bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Vào nửa cuối thế kỷ 19, thực dân Pháp tiến hành xâm lược và đặt ách thống trị trên đất nước ta. Nhân dân ta phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”,  đó là sự cai trị của triều đình phong kiến bạc nhược hèn yếu và sự đàn áp, bóc lột thậm tệ của bọn thực dân xâm lược. Chúng tăng cường khai thác thuộc địa, vơ vét của cải đem về phục vụ cho chính quốc, đẩy nhân dân ta vào cảnh lầm than, bần cùng. Hàng loạt phong trào yêu nước đã nổ ra khắp nơi trong cả nước nhưng đều thất bại, do chưa có đường lối cách mạng đúng đắn, chưa có chủ nghĩa cách mạng chân chính soi sáng dẫn đường.

Lúc bấy giờ, ở trong nước xuất hiện các tổ chức cộng sản như Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Mặc dù các tổ chức đảng hoạt động đều vì mục đích là đấu tranh giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, trong một nước có tới ba tổ chức cộng sản nên không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức, không thể thống nhất về tư tưởng và hành động. Trách nhiệm lịch sử là phải thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào Cộng sản ở Việt Nam. Từ ngày 03 đến ngày 7/2/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp ở bán đảo Cửu Long thuộc Hồng Kông (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế Cộng sản. Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản có ý nghĩa như Đại hội thành lập Đảng.

2. Đây là một sự kiện chính trị trọng đại, đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt thời kỳ mò mẫm, tìm đường cứu nước của các phong trào cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng mà người dẫn dắt là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, phong trào cách mạng nước ta ngày càng lên cao; hàng loạt cuộc diễn tập diễn ra như cao trào cách mạng 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô viết - Nghệ Tĩnh, cao trào đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và cao trào giải phóng dân tộc dẫn tới Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật tiến hành cuộc đảo chính lật đổ Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Thời cơ ngàn năm có một đã đến, Trung ương Đảng tiến hành Hội nghị và quyết định ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, vận động toàn thể quốc dân, đồng bào đứng lên đánh đuổi kẻ thù xâm lược. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước đã nhanh chóng đứng lên giành lấy chính quyền. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã lật nhào chế độ thực dân, phong kiến, giải phóng nhân dân ta thoát khỏi xiềng xích nô lệ, lập nên Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một trang mới của lịch sử dân tộc.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước non trẻ mới ra đời phải đối mặt với nhiều kẻ thù. Ở miền Bắc, 20 vạn quân Tưởng với danh nghĩa Đồng minh giải giáp quân Nhật vào đóng quân từ bắc vĩ tuyến 16 đến biên giới Việt - Trung, miền Nam, quân Anh tiếp tay cho Pháp trở lại xâm lược Việt Nam. Vận mệnh dân tộc ta lúc này ở tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Bị thất bại, thực dân Pháp không từ bỏ dã tâm tái chiếm lại nước ta, được sự giúp đỡ của quân Anh, chúng tiến hành gây chiến ở Nam Bộ, sau đó mở rộng đánh phá cả vùng Nam Trung bộ, gửi tối hậu thư đòi ta phải phá bỏ công sự trong thành phố và đòi kiểm soát, giữ gìn trật tự Hà Nội. Trước hành động bạo ngược của kẻ thù, ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” với quyết tâm: “...chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến; vừa kháng chiến, vừa kiến quốc dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu ngày 7.5.1954. Chiến thắng Điện Biên Phủ và ký kết Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đã chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta, mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Với dã tâm của chủ nghĩa đế quốc, đế quốc Mỹ âm mưu phá hoại Hiệp định Giơnevơ, hất chân thực dân Pháp, độc chiếm miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng. Đương đầu với một đế quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới, Đảng ta chủ trương đánh Mỹ lâu dài, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và hoạt động binh vận; kết hợp tiến công và nổi dậy, tiến hành đấu tranh cả ba vùng (đồng bằng, thành thị, miền núi); kết hợp mặt trận quân sự, chính trị và mặt trận ngoại giao; phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh thời đại, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Đảng lãnh đạo nhân dân ta từng bước vượt qua khó khăn, thách thức, đưa phong trào cách mạng của cả nước giữ vững thế chủ động trên các mặt trận, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (30/4/1975), giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất hai miền Nam - Bắc, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, đưa đất nước bước vào thời kỳ mới: thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

3. Sau chiến tranh, Nhân dân ta lại phải đối mặt với những thách thức mới; hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại làm cho nền kinh tế của đất nước kiệt quệ, đời sống nhân dân gặp muôn vàn khó khăn, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân vừa ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh để phát triển kinh tế, vừa lãnh đạo quân và dân đánh trả và đẩy lùi hai cuộc chiến tranh chống xâm lược biên giới phía Bắc và Tây Nam, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Với bản lĩnh chính trị vững vàng, đầy sáng tạo, dày dạn kinh nghiệm trong lãnh đạo, chiến đấu, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta tiếp tục nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bảo vệ vững chắc biên giới phía Bắc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế với nước bạn Campuchia. Đồng thời, tập trung lãnh đạo xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội nhanh chóng bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại; vừa kịp thời tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới đúng đắn, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển, thúc đẩy nền kinh tế của đất nước liên tục tăng trưởng. Chính nhờ vậy, trong hoàn cảnh chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu bị sụp đổ (1990); các thế lực thù địch ráo riết tìm cách xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại ... thì ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ vững và kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, linh hoạt trong đường lối lãnh đạo, vượt qua khó khăn, thách thức. Với những thành tựu to lớn đạt được trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại …

Chặng đường 55 năm sau ngày thống nhất đất nước, nhất là qua 40 năm đổi mới, do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; với ý chí độc lập, tự chủ, tự cường, khát vọng xây dựng và phát triển đất nước, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân quyết tâm xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, nước ta đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững, lợi ích quốc gia dân tộc được bảo đảm.

Riêng năm 2025, trong khi nhiều quốc gia chống suy thoái, kinh tế Việt Nam đã bứt phá ngoạn mục, cả năm ước đạt 8,02%, bình quân giai đoạn đạt 6,3%, thuộc nhóm cao của khu vực và trên thế giới; quy mô nền kinh tế tăng từ 346 tỷ USD năm 2020 lên 514 tỷ USD năm 2025, tăng 5 bậc, lên vị trí 32 thế giới. GDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt khoảng 5.000 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, chính thức vào nhóm thu nhập trung bình cao; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm ước đạt hơn 920 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 15 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới và khẳng định vững chắc vai trò mắt xích quan trọng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu; duy trì 10 năm xuất siêu liên tiếp (năm 2025 xuất siêu trên 21 tỷ USD); hoàn thành mục tiêu cơ bản xóa nhà tạm, nhà dột nát sớm 5 năm 4 tháng với hơn 334.000 căn nhà; hoàn thành mục tiêu xây dựng hơn 102 nghìn căn nhà ở xã hội trong năm 2025, bảo đảm “an cư lạc nghiệp”, mang lại hạnh phúc cho người dân; hạ tầng tập trung hơn vào tính đồng bộ, liên kết các công trình chiến lược mở rộng không gian phát triển và nâng cao giá trị sử dụng đất (như hạ tầng đường cao tốc, sân bay, bến cảng, đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do…); hạ tầng xã hội và hạ tầng số được đầu tư đồng bộ hơn, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao; theo Liên hợp quốc, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2025 xếp thứ 46, tăng 37 bậc so với năm 2020 (xếp thứ 83). Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam xếp hạng 51/165, tăng 37 bậc so với năm 2016. Vai trò, vị thế và trách nhiệm quốc tế của Việt Nam tiếp tục được khẳng định trong các cơ chế đa phương khu vực và toàn cầu, góp phần nâng cao uy tín và khả năng tham gia định hình luật chơi. Mạng lưới đối ngoại ngày càng rộng mở và cân bằng, quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia, trong đó có 42 đối 10 tác toàn diện và chiến lược, phản ánh rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh mới. Qua đó, tiếp tục mở rộng không gian phát triển, kiến tạo cơ hội đột phá, tranh thủ tối đa các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài để tăng trưởng nhanh, bền vững, nâng cao giá trị chiến lược và vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới, nền chính trị toàn cầu và nền văn minh nhân loại.

4. Trong 96 năm qua, Đảng ta nỗ lực không ngừng, bám sát tình hình thực tiễn trong nước và thế giới để ban hành các quyết sách, chiến lược đúng đắn, sáng tạo đưa cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh để có những thắng lợi vĩ đại, vinh quang, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển vững mạnh, đời sống Nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc. Đảng ta đã không ngừng tự đổi mới, dành nhiều thời gian và công sức cho công tác xây dựng Đảng, xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, xuyên suốt trong các nhiệm kỳ của Đảng.

Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thực hiện toàn diện, đồng bộ, sâu sắc nhiệm vụ về xây dựng Đảng, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới, như: Công tác tư tưởng tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, góp phần tạo sự thống nhất trong Đảng và đồng thuận xã hội; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên đạt kết quả tốt; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, với tinh thần làm đến nơi đến chốn, không né tránh, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, “xử lý một vụ, cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực”; công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng; công tác dân vận, dân chủ cơ sở đã chuyển mạnh từ tuyên truyền, vận động sang tham mưu chính sách, giám sát và tổ chức thực thi, hướng tới mục tiêu chăm lo thiết thực đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của Nhân dân.

Từ cuối năm 2024 đến nay, Bộ Chính trị đã ban hành 7 nghị quyết mang tính đột phá về đường lối, thể chế, chính sách, tạo nền tảng vững chắc để đất nước sẵn sàng bước vào kỷ nguyên mới: Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 71 NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.

Cùng với đó, công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách và thực thi được đổi mới về cả tư duy, cách làm; nhiều “điểm nghẽn” được kịp thời tháo gỡ; cơ bản hoàn thành tháo gỡ các vướng mắc thể chế; quyết liệt cải cách thủ tục hành chính; với tinh thần kiến tạo phát triển, xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm”. Đây là những định hướng lớn, đồng bộ, thể hiện tư duy đổi mới, tầm nhìn dài hạn và quyết tâm chính trị rất cao của Đảng; là nền tảng đưa đất nước vươn mình phát triển giàu mạnh và thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.

Đặc biệt, năm 2025, Đảng đã lãnh đạo cả hệ thống chính trị đã triển khai quyết liệt, hiệu quả việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Đây là cuộc cách mạng mà không có nhiều quốc gia đã làm được; không chỉ diễn ra trong khối Chính 14 phủ mà bao trùm cả hệ thống chính trị, từ Đảng, Quốc hội, lực lượng vũ trang đến Mặt trận Tổ quốc. Từ đó tạo ra không gian phát triển kinh tế rộng mở; cắt giảm triệt để các khâu trung gian; giảm mạnh biên chế gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ, tiết kiệm nguồn lực lớn cho ngân sách nhà nước; xây dựng chính quyền gần dân, phục vụ Nhân dân tốt hơn; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo hướng “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

Trước bối cảnh mới, với phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã chính thức diễn ra tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 19/01 đến ngày 25/01/2026. Đây là dấu mốc lịch sử trọng đại trên con đường phát triển của đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh, đánh dấu sự hội tụ truyền thống nghìn năm văn hiến của dân tộc, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên mà Việt Nam quyết tâm hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm là 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước; phấn đấu để đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên Chủ nghĩa xã hội.

5. Những bài học kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam trong suốt 96 năm qua, Đảng ta đã tích lũy và đúc rút được nhiều bài học kinh nghiệm lớn:

Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Hai là, sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Chính Nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với Nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời Nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng.

Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: Đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công.

Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ, nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại.

Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên.

6. Gắn liền với những trang sử hào hùng của dân tộc, của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Đảng bộ và Nhân dân thành phố Đà Nẵng, đồng bào các dân tộc xã Trà My với truyền thống yêu nước nồng nàn, một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ. Điều đó được minh chứng qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/02/1930), đồng bào các dân tộc huyện Trà My (cũ) đã được đón nhận một luồng gió mới, một ánh sáng mới, có Đảng, có Bác Hồ soi sáng, dẫn đường, chỉ lối để đấu tranh giải phóng quê hương, đất nước. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đã tạo ra niềm tin tưởng của đồng bào đối với Đảng, năm 1948, chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Trà My được thành lập, đây là một nền móng của Đảng cho quá trình công tác xây dựng Đảng ở huyện Trà My. Ngày 28 tháng 10 năm 1949, Đảng bộ huyện Trà My được thành lập tại Đồng Trầu, xã Trà Giang, huyện Trà My (nay thuộc xã Trà My), do đồng chí Trần Mịch làm Bí thư. Đó là một sự kiện chính trị trọng đại đối với Đảng bộ và nhân dân huyện Trà My, đánh dấu một bước chuyển biến to lớn về phong trào cách mạng của huyện. Trong giờ phút thiêng liêng ấy, tất cả cán bộ, đảng viên đã thể hiện sự quyết tâm, phấn khởi, cảm động và ghi lòng tạc dạ trách nhiệm nặng nề, to lớn trước Đảng, trước nhân dân.

Tháng 3 năm 1951, Đảng bộ Trà My tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ I tại xã Trà Giang với 30 đại biểu tham dự; đồng chí Trần Huệ được bầu làm Bí thư Huyện uỷ. Đại hội kêu gọi Nhân dân nêu cao tinh thần đoàn kết, sẵn sàng đấu tranh không cho địch mở rộng địa bàn hoạt động; kêu gọi tăng gia sản xuất; chú trọng công tác xây dựng đảng, tăng cường đội ngũ cán bộ, đảng viên đi sâu hoạt động ở các vùng trọng yếu của huyện.

Là địa bàn chiến lược quan trọng nối liền giữa đồng bằng Quảng Nam, Quảng Ngãi với chiến trường Tây Nguyên, vùng Trà My được Ban cán sự Miền Tây tập trung xây dựng thành địa bàn chiến lược do Khu uỷ V trực tiếp chỉ đạo. Phong trào cách mạng tại Trà My từ đó phát triển lên một tầm cao mới; điển hình là đợt vận động đấu tranh giải phóng phá gum, phá tề trong chiến dịch Xuân hè năm 1954 đã cổ vũ mạnh mẽ đồng bào vùng lên đánh đổ thực dân Pháp.

Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, niềm vui chưa được bao lâu thì đế quốc Mỹ xâm lược nước ta. Trong giai đoạn cách mạng này, từ năm 1955 - 1960, Đảng bộ huyện đã tổ chức các buổi Hội nghị bàn những biện pháp cấp bách để lãnh đạo phong trào đấu tranh ở vùng thấp, đề phòng địch tấn công lên vùng trung và vùng cao, đề ra phương cách chống khủng bố “tố cộng”, "diệt cộng"; bàn kế hoạch thực hiện chủ trương giữ vững thế an toàn miền núi của Ban cán sự Miền Tây Quảng Nam.

Từ giai đoạn năm 1962 đến năm 1974, Đảng bộ huyện vừa tập trung lãnh đạo Nhân dân tham gia các phong trào cách mạng, vừa tập trung lãnh đạo công tác tổ chức đại hội Đảng, vừa tập trung ổn định tình hình do chủ trương của Tỉnh uỷ nhiều lần chia tách và sáp nhập. Qua 12 năm đã tổ chức 05 kỳ đại hội: II, III, IV, V và VI. Theo đó, lần lượt đồng chí Phạm Xuân Thâm, Nguyễn Ngọc Quyến, Huỳnh Quang Toản, Nguyễn Văn Khương, Đỗ Kim Bân được bầu làm Bí thư Huyện uỷ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, Nhân dân trong toàn huyện luôn tích cực tương trợ giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất và trong chiến đấu, đóng góp một lượng lớn lương thực phục vụ kháng chiến. Cũng trong giai đoạn này, đã diễn ra một sự kiện lịch sử có ý nghĩa chính trị quan trọng, đó là vào đêm 27/3/1971, dưới sự lãnh đạo của khu ủy Khu V và Bộ Tư lệnh, Tiểu đoàn đặc công 409 Quân khu V cùng với du kích xã Đốc đã tấn công và tiêu diệt gọn cứ điểm xã Đốc, giải phóng hoàn toàn huyện Trà My.

Sau khi Trà My được giải phóng, Đảng bộ huyện tiếp tục thực hiện xây dựng căn cứ địa vững mạnh; tăng cường khối đại đoàn kết; Phát huy quyền làm chủ của nhân dân; Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp; theo đó, đã xây dựng kế hoạch sản xuất, quy hoạch vùng sản xuất và cây trồng để thuận lợi cho việc quản lý, sản xuất lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu tại chỗ và nuôi quân kháng chiến; tham gia mở đường trong huyện và đường hành quân từ miền núi xuống đồng bằng phục vụ cách mạng.

Với đường lối đổi mới toàn diện đất nước được đề ra tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, tháng 12 năm 1986. Theo đó, các kỳ Đại hội trong giai đoạn từ 1986-2003, Đảng bộ huyện đã đề ra nhiệm vụ trọng tâm là: Ổn định và phát triển sản xuất theo hướng ưu tiên sản xuất lương thực, phát triển nông lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; kết hợp phát triển kinh tế - văn hóa với quốc phòng, an ninh; chuyển mạnh từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường.

Ngày 01/08/2003, huyện Trà My được chia tách thành 02 huyện Nam Trà My và Bắc Trà My theo Nghị định số 72/NĐ-CP của Chính phủ. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, Đảng bộ huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị của địa phương, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là Nhân dân vùng đồng bào các dân tộc thiểu số của huyện. Đây cũng là giai đoạn phát triển vượt bậc về xây dựng các công trình giao thông, điện đường, trường, trạm đặc biệt là thành tựu quan trọng trong công tác xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.

 7. Trước yêu cầu khách quan và yêu cầu của sự phát triển, theo Nghị quyết số 1659/NQ-UBTVQH, ngày 16/6/2025 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của Thành phố Đà Nẵng năm 2025, xã Trà My được hình thành từ 4 đơn vị (thị trấn Trà My, xã Trà Sơn, xã Trà Giang, xã Trà Dương), Đảng bộ có 38 chi bộ trực thuộc với 936 đảng viên. Qua 6 tháng vận hành theo chính quyền địa phương 2 cấp, Đảng bộ và Nhân dân xã đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, được đánh giá là đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ trong năm 2025.

Công tác xây dựng Đảng được tăng cường. Chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng cũng như đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng nâng cao. Bộ máy chính quyền, Mặt trận và tổ chức chức chính trị - xã hội được củng cố, kiện toàn; công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số triển khai thực hiện hiệu quả; dân chủ cơ sở được mở rộng, nội dung, phương thức hoạt động được đổi mới; quốc phòng - an ninh được tăng cường và giữ vững, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đảm bảo.

Những thành tựu đạt được của Đảng bộ xã Trà My đã củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân vào sự nghiệp đổi mới đất nước và con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội do Đảng ta lãnh đạo. Tinh thần đoàn kết nhất trí trong toàn Đảng bộ và khối đại đoàn kết toàn dân không ngừng được củng cố và phát triển bền vững. Những kết quả trên đây, đã làm diện mạo của quê hương xã Trà My thân yêu ngày càng thay da đổi thịt. Tuy còn khó khăn và thách thức ở phía trước nhưng tất cả những gì chúng ta làm được có ý nghĩa hết sức quan trọng, làm tiền đề, động lực để Đảng bộ, chính quyền và đồng bào các dân tộc anh em trong xã vững bước tiến lên thực hiện nhiệm vụ mới đầy tự tin và thắng lợi./.

 

Nguồn tin: ĐẢNG UỶ XÃ TRÀ MY

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

Bản đồ hành chính

Danh mục

Thăm dò ý kiến

Bạn cảm thấy website của chúng tôi như thế nào ?

Lượt truy cập

Tổng số lượt truy cập

000053829